Bộ Tư pháp tổ chức họp lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo Thông tư hướng dẫn một số nội dung của Luật công chứng

Triển khai thi hành Luật công chứng năm 2014, Bộ Tư pháp đã thành lập Tổ soạn thảo Thông tư hướng dẫn một số nội dung của Luật công chứng.
Để thống nhất về định hướng xây dựng và những nội dung cơ bản của dự thảo Thông tư nêu trên, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Tổ soạn thảo Thông tư.

Chủ trì: Đồng chí Đỗ Hoàng Yến – Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Tổ trưởng Tổ soạn thảo.

Thời gian: Thứ sáu, ngày 12 tháng 9 năm 2014 (bắt đầu lúc 14h00).

Địa điểm: Hội trường A, trụ sở Bộ Tư pháp, 58-60 Trần Phú, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Trân trọng kính mời thành viên Tổ soạn thảo Dự thảo Thông tư tham dự và phát biểu ý kiến.

Trường hợp cần thông tin chi tiết, đề nghị đồng chí liên hệ với Phòng Quản lý công chứng, Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp theo số điện thoại 04.62739508 (đ/c Vũ Phương Thanh).

Tài liệu cuộc họp:

TO TRINH THONG TU HUONG DAN LCC.8.9.2014.doc

 

BỘ TƯ PHÁP

CỤC BỔ TRỢ TƯ PHÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số:        /TTr-BTTP

 

Hà Nội, ngày       tháng      năm 2014

 

TỜ TRÌNH

Về Thông tư hướng dẫn một số nội dung của Luật công chứng

Kính gửi: Bộ trưởng Hà Hùng Cường

 

I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG THÔNG TƯ

Ngày 20 tháng 6 năm 2014, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật công chứng số 53/2014/QH13 (sau đây gọi là Luật công chứng năm 2014), có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015. Luật công chứng năm 2014 đã giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết về: cơ sở đào tạo nghề công chứng, chương trình khung đào tạo nghề công chứng, việc công nhận tương đương đối với những người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài; khóa bồi dưỡng về kỹ năng hành nghề công chứng, quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; việc tập sự và kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng; mẫu Thẻ công chứng viên, thủ tục đăng ký hành nghề, cấp, cấp lại và thu hồi Thẻ công chứng viên; mẫu lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch, bản dịch; thủ tục chuyển đổi Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập thành Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh.

Để đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của hoạt động công chứng, ngoài việc Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành riêng 01 Thông tư hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng thì các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp cần được hướng dẫn tại Thông tư này nhằm đảm bảo cho việc triển khai, thực hiện Luật công chứng được thống nhất, hiệu quả.

II. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG THÔNG TƯ

Thực hiện nhiệm vụ được giao, Cục Bổ trợ tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị thành lập Tổ soạn thảo dự thảo Thông tư và thực hiện các hoạt động chủ yếu sau:

1. Xây dựng dự thảo Thông tư, dự thảo Tờ trình.

2. Tổ chức các cuộc họp Tổ soạn thảo để cho ý kiến về các nội dung được quy định trong dự thảo Thông tư.

3. Tổ chức lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đối với dự thảo Thông tư.

4. Đăng tải dự thảo Thông tư trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

5. Tổ chức các hội thảo, tọa đàm góp ý cho dự thảo Thông tư.

6. Ngày     tháng     năm 2014, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật đã tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định dự thảo Thông tư. Trên cơ sở ý kiến đóng góp và ý kiến tư vấn thẩm định, Cục Bổ trợ tư pháp đã chỉnh lý dự thảo Thông tư và các tài liệu kèm theo để trình Bộ trưởng.

III. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO

1. Kế thừa những quy định còn phù hợp của Thông tư số 11/2011/TT-BTP 27/6/2011 hướng dẫn thực hiện một số nội dung về công chứng viên, tổ chức và hoạt động công chứng, quản lý nhà nước về công chứng, Quyết định số 01/2008/QĐ-BTP ngày 20/02/2008 về việc ban hành một số mẫu giấy tờ dùng trong hoạt động công chứng; đồng thời chỉnh lý về nội dung và ngôn ngữ pháp lý của một số quy định được kế thừa để phù hợp với quy định của Luật công chứng năm 2014.

2. Không lặp lại quy định của Luật công chứng năm 2014.

3. Đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức và hoạt động công chứng song vẫn đảm bảo hiệu quả quản lý hoạt động công chứng.

IV. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA  DỰ THẢO THÔNG TƯ

  1. 1.     Bố cục của dự thảo

Dự thảo Thông tư gồm 06 chương 26 điều. Trong đó:

– Chương I (Những quy định chung): Từ Điều 1 đến Điều 2 quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng.

– Chương II (Công chứng viên): gồm 04 điều từ Điều 3 đến Điều 6 quy định về hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên, đăng ký hành nghề và cấp Thẻ công chứng viên, thu hồi Thẻ công chứng viên, cấp lại Thẻ công chứng viên.

– Chương III (Đào tạo, bồi dưỡng nghề công chứng): gồm 03 điều từ Điều 7 đến Điều 9 quy định về cơ sở đào tạo và bồi dưỡng nghề công chứng, công nhận tương đương đối với những người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm.

– Chương IV (Tổ chức và hoạt động công chứng): gồm 05 điều từ Điều 10 đến Điều 14 quy định về biển hiệu của tổ chức hành nghề công chứng, chuyển đổi Văn phòng công chứng từ Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập thành Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh, thủ tục bàn giao hồ sơ công chứng khi tổ chức hành nghề công chứng chuyển đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hoạt động hoặc giải thể, trách nhiệm bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động, lập sổ theo dõi công việc.

– Chương V (Chế độ báo cáo, kiểm tra, thanh tra tổ chức, hoạt động công chứng) gồm 08 điều từ Điều 15 đến Điều 22 quy định về chế độ báo cáo, nguyên tắc kiểm tra, nội dung kiểm tra, nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn kiểm tra, quyền và nghĩa vụ của đối tượng kiểm tra, trình tự thủ tục kiểm tra, thanh tra tổ chức và hoạt động công chứng.

– Chương VI (Điều khoản thi hành) gồm 04 điều từ Điều 23 đến Điều 26 về điều khoản chuyển tiếp, biểu mẫu kèm theo, hiệu lực và trách nhiệm thi hành.

2. Nội dung cơ bản của dự thảo Thông tư

2.1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Điều 1 của dự thảo Thông tư xác định phạm vi điều chỉnh của Thông tư là các vấn đề về công chứng viên, đào tạo, bồi dưỡng nghề công chứng, tổ chức và hoạt động công chứng, chế độ báo cáo, kiểm tra, thanh tra về tổ chức và hoạt động công chứng.

Dự thảo Thông tư đã tập trung điều chỉnh những vấn đề Luật giao cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn. Riêng vấn đề tập sự và kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng, chương trình khung đào tạo nghề công chứng không được quy định trong Thông tư này mà sẽ được quy định cụ thể trong Thông tư hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng và Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chương trình khung đào tạo nghề công chứng. Bên cạnh đó, dự thảo Thông tư kế thừa một số quy định của Thông tư số 11/2011/TT-BTP và Quyết định số 01/2008/QĐ-BTP, chỉnh lý về nội dung và ngôn ngữ pháp lý của các quy định được kế thừa để phù hợp với quy định của Luật công chứng năm 2014 và Thông tư này sẽ thay thế Thông tư số 11/2011/TT-BTP đồng thời bãi bỏ Quyết định số 01/2008/QĐ-BTP.

Về đối tượng áp dụng: Thông tư áp dụng đối với công chứng viên; tổ chức hành nghề công chứng; tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên; cơ quan quản lý nhà nước về công chứng; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

2.2. Về công chứng viên:

a) Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên (Điều 3)

Dự thảo Thông tư hướng dẫn về một số giấy tờ trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên như: đơn đề nghị bổ nhiệm công chứng viên, đơn đề nghị bổ nhiệm lại bổ nhiệm công chứng viên, giấy chứng nhận sức khỏe, giấy tờ chứng minh là người được miễn đào tạo nghề công chứng.

Những quy định của dự thảo Thông tư hướng dẫn về giấy tờ trong hồ sơ để nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên về cơ bản kế thừa quy định của Thông tư số 11/2011/TT-BTP, có chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Luật công chứng hiện hành.

b) Quy định về thủ tục đăng ký hành nghề công chứng và cấp Thẻ công chứng viên (Điều 4)

Dự thảo Thông tư quy định tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hành nghề và đề nghị cấp thẻ cho công chứng viên của tổ chức mình tại Sở Tư pháp nơi tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hoạt động. Sở Tư pháp ghi nhận việc đăng ký hành nghề, ghi tên người đăng ký hành nghề vào Danh sách công chứng viên hành nghề công chứng của Sở Tư pháp và ra quyết định cấp Thẻ công chứng viên. Sở Tư pháp gửi Danh sách công chứng viên đang hành nghề của Sở cho Bộ Tư pháp để lập Danh sách công chứng viên hành nghề công chứng trong toàn quốc.

Dự thảo Thông tư quy định việc đăng ký hành nghề gắn liền với việc cấp Thẻ công chứng viên nhằm giảm thiểu thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho công chứng viên hành nghề.

c) Thu hồi Thẻ công chứng viên (Điều 5)

Dự thảo Thông tư quy định Sở Tư pháp nơi tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hoạt động quyết định thu hồi Thẻ công chứng viên trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật công chứng (công chứng viên bị miễn nhiệm hoặc bị xóa đăng ký hành nghề).

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thu hồi Thẻ công chứng viên, Sở Tư pháp nơi tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hoạt động thu lại Thẻ công chứng viên của người bị thu hồi và báo cáo bằng văn bản về Bộ Tư pháp.

Người bị thu hồi thẻ có trách nhiệm nộp lại Thẻ công chứng viên cho Sở Tư pháp. Việc thu lại Thẻ công chứng viên được Sở Tư pháp lập thành biên bản.

d) Cấp lại Thẻ công chứng viên (Điều 6)

Dự thảo Thông tư quy định theo hướng Thẻ công chứng viên đã được cấp  bị mất hoặc bị hỏng thì được xem xét cấp lại Thẻ.

Tổ chức hành nghề công chứng nộp hồ sơ đề nghị cấp lại Thẻ công chứng viên cho công chứng viên của tổ chức mình tại Sở Tư pháp nơi tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hoạt động. Thẻ công chứng viên được Sở Tư pháp cấp lại được giữ nguyên số thẻ đã được cấp trước đây nhưng với ngày cấp mới.

2.3. Đào tạo, bồi dưỡng nghề công chứng:

a) Cơ sở đào tạo và bồi dưỡng nghề công chứng (Điều 7)

Hiện nay, việc đào tạo nghề công chứng đang do Học viện Tư pháp thực hiện. Học viện Tư pháp có đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu, có phẩm chất đạo đức và trình độ đào tạo, bảo đảm thực hiện mục tiêu, chương trình đào tạo nghề công chứng; Có chương trình đào tạo, giáo trình phù hợp với chương trình khung về đào tạo nghề công chứng; Có cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết phục vụ cho việc dạy và học nghề công chứng. Thời gian qua, chất lượng công chứng viên được đào tạo về cơ bản đáp ứng các yêu cầu thực tiễn. Vì vậy, dự thảo Thông tư quy định Học viện Tư pháp thuộc Bộ Tư pháp là là cơ sở thực hiện đào tạo nghề công chứng theo quy định tại Điều 9 Luật công chứng và thực hiện bồi dưỡng nghề công chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật công chứng.

b) Công nhận tương đương đối với những người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài (Điều 8)

Dự thảo Thông tư quy định các trường hợp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài được công nhận; hồ sơ đề nghị công nhận; thủ tục công nhận. Quy định công nhận tương đương đối với những người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu, đối chiếu với quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề công nhận văn bằng của người Việt Nam do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp.

c) Bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm (Điều 9)

Quy định của dự thảo Thông tư về bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm nhìn chung được giữ như quy định của Điều 3 Nghị định số 04/2013/NĐ-CP ngày 07/01/2013 về bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng.

Dự thảo Thông tư quy định Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm cho công chứng viên đang hành nghề tại địa phương.

2.4. Tổ chức và hoạt động công chứng:

a) Thủ tục chuyển đổi Văn phòng công chứng từ Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập thành Văn phòng công chứng hợp danh (Điều 11)

Dự thảo Thông tư quy định các bước, quy trình, thủ tục chuyển đổi, hồ sơ đề nghị chuyển đổi, quyết định chuyển đổi. Để đảm bảo Văn phòng công chứng hoạt động thông suốt, dự thảo Thông tư quy định Văn phòng công chứng chuyển đổi loại hình được hoạt động kể từ ngày được Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động, kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và có trách nhiệm lưu trữ toàn bộ hồ sơ, tài liệu công chứng của Văn phòng công chứng trước đó.

Quy định của dự thảo Thông tư hướng dẫn về thủ tục chuyển đổi về cơ bản kế thừa quy định của Điều 12 Nghị định số 04/2013/NĐ-CP.

b) Thủ tục bàn giao hồ sơ công chứng khi tổ chức hành nghề công chứng chuyển đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hoạt động hoặc giải thể (Điều 12)

Dự thảo Thông tư quy định trong trường hợp Sở Tư pháp phải chỉ định tổ chức hành nghề công chứng nhận bàn giao hồ sơ công chứng của Phòng công chứng bị giải thể hoặc Văn phòng công chứng chấm dứt hoạt động theo quy định tại khoản 5 Điều 64 Luật công chứng thì thời hạn chỉ định chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày Phòng công chứng bị giải thể hoặc Văn phòng công chứng chấm dứt hoạt động.

Sở Tư pháp tổ chức bàn giao hồ sơ công chứng giữa Phòng công chứng giải thể hoặc Văn phòng công chứng chấm dứt hoạt động với tổ chức hành nghề công chứng nhận bàn giao hồ sơ. Việc giao nhận hồ sơ công chứng phải được lập thành biên bản có ký, đóng dấu của các bên và có xác nhận, đóng dấu của Sở Tư pháp.

Trong trường hợp chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật công chứng, chuyển nhượng Văn phòng công chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật công chứng, việc giao nhận hồ sơ công chứng phải được lập thành biên bản có ký, đóng dấu của các bên và có xác nhận, đóng dấu của Sở Tư pháp.

c) Vấn đề biển hiệu của tổ chức hành nghề công chứng, bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động, lập sổ theo dõi công việc (Điều 10, Điều 13, Điều 14)

Quy định về các vấn đề này trong dự thảo Thông tư kế thừa quy định của Thông tư số 11/2011/TT-BTP.

2.5. Chế độ báo cáo, kiểm tra, thanh tra tổ chức, hoạt động công chứng

a) Chế độ báo cáo (Điều 15)

Báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động công chứng của các địa phương với những thông tin, số liệu thực tế có vai trò quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước, hiệu quả xây dựng chính sách pháp luật trong lĩnh vực công chứng. Chính vì vậy, dự thảo Thông tư đã dành 01 điều quy định về chế độ báo cáo trong đó quy định rõ về nội dung báo cáo, kỳ báo cáo, trách nhiệm của các cơ quan báo cáo.

Quy định về vấn đề này trong dự thảo Thông tư kế thừa quy định của Thông tư số 11/2011/TT-BTP, có chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Luật công chứng hiện hành.

b) Chế độ kiểm tra, thanh tra (Điều 16 đến Điều 22)

Hiện nay, công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng còn có những sai phạm trong tổ chức và hành nghề công chứng. Để ngăn ngừa, chấn chỉnh những hành vi sai phạm trong hoạt động công chứng, việc tiến hành hoạt động kiểm tra, thanh tra là nhiệm vụ cấp thiết đặt ra. Nhằm tạo khuôn khổ pháp lý, minh bạch hóa công tác kiểm tra, thanh tra tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tiếp cận, dự thảo Thông tư đã dành 07 điều quy định cụ thể về chế độ kiểm tra, thanh tra. Trong đó, làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc kiểm tra, thanh tra tổ chức, hoạt động công chứng, nguyên tắc kiểm tra, nội dung kiểm tra, nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn kiểm tra, quyền và nghĩa vụ của đối tượng kiểm tra, trình tự, thủ tục kiểm tra… Việc thanh tra tổ chức, hoạt động công chứng được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.

2.6. Điều khoản thi hành

a) Quy định chuyển tiếp (Điều 23)

Dự thảo Thông tư quy định Thẻ công chứng viên được cấp trước ngày Luật công chứng số 53/2014/QH13 có hiệu lực thi hành được giữ nguyên giá trị. Trường hợp công chứng viên đã được cấp thẻ bị mất thẻ hoặc thẻ bị hỏng kể từ ngày Luật công chứng số 53/2014/QH13 có hiệu lực thì thủ tục cấp lại Thẻ được thực hiện theo quy định tại Điều 6 của Thông tư này.

b) Biểu mẫu kèm theo (Điều 24)

Trên cơ sở quy định của Luật công chứng 2014, rà soát Thông tư số 11/2011/TT-BTP và Quyết định số 01, dự thảo Thông tư quy định ban hành kèm theo Thông tư các mẫu giấy tờ sau đây:

1. Đơn đề nghị bổ nhiệm công chứng viên (Mẫu TP-CC-01).

2. Đơn đề nghị bổ nhiệm lại công chứng viên (Mẫu TP-CC-02).

3. Thẻ công chứng viên (Mẫu TP-CC-03).

4. Đơn đăng ký hành nghề công chứng và đề nghị cấp lại Thẻ công chứng viên (Mẫu TP-CC-04).

5. Đơn đề nghị cấp lại Thẻ công chứng viên (Mẫu TP-CC-05).

6. Đơn đề nghị công nhận Giấy chứng nhận đào tạo nghề công chứng do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp (Mẫu TP-CC-06).

7. Giấy chứng nhận hoàn thành lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm (Mẫu TP-CC-07).

8. Biển hiệu tổ chức hành nghề công chứng (Mẫu TP-CC-08).

9. Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch (Mẫu TP-CC-09).

10. Sổ chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (Mẫu TP-CC-10);

11. Sổ theo dõi việc sử dụng lao động (Mẫu TP-CC-11).

12. Mẫu lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch (Mẫu TP-CC-12).

13. Mẫu lời chứng của công chứng viên đối với bản dịch (Mẫu TP-CC-13).

14. Đơn đề nghị thành lập Văn phòng công chứng (Mẫu TP-CC-14).

15. Đơn đăng ký hoạt động Văn phòng công chứng (Mẫu TP-CC-15).

16.  Quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng (Mẫu TP-CC-16);

17. Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng (Mẫu TP-CC-17).

18. Báo cáo về tổ chức và hoạt động công chứng của tổ chức hành nghề công chứng (Mẫu TP-CC-18).

c) Hiệu lực thi hành (Điều 25)

Các nội dung của Thông tư số 11 đã được thể hiện trong Luật công chứng 2014 và dự thảo Thông tư. Vì vậy, Thông tư này sẽ thay thế Thông tư số 11. Đồng thời, do các biểu mẫu cần thiết đối với hoạt động công chứng cũng đã được quy định trong dự thảo Thông tư nên Thông tư bãi bỏ Quyết định số 01/2008/QĐ-BTP.

d) Trách nhiệm thi hành (Điều 26)

Dự thảo Thông tư quy định Chánh Văn phòng, Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ, Giám đốc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.

IV. VẤN ĐỀ CẦN XIN Ý KIẾN

Về cơ sở đào tạo nghề công chứng, hiện nay, việc đào tạo nghề công chứng đang do Học viện tư pháp thực hiện. Dự thảo Thông tư quy định Học viện tư pháp thuộc Bộ Tư pháp là cơ sở đào tạo nghề công chứng. Tuy nhiên, hiện có quan điểm cho rằng nên mở rộng cơ sở đào tạo không chỉ gồm Học viện tư pháp mà còn gồm các cơ sở đào tạo đáp ứng điều kiện có đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu, có phẩm chất đạo đức và trình độ đào tạo, bảo đảm thực hiện mục tiêu, chương trình đào tạo nghề công chứng; Có chương trình đào tạo, giáo trình phù hợp với chương trình khung về đào tạo nghề công chứng; Có cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết phục vụ cho việc dạy và học nghề công chứng, thì được phép đào tạo nghề công chứng.

Theo Cục Bổ trợ tư pháp, hiện số lượng học viên tham dự khóa đào tạo công chứng công chứng hàng năm không lớn (khoảng 300 học viên), với đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, kinh nghiệm tổ chức đào tạo… đang có, Học viện Tư pháp hoàn toàn có thể đáp ứng việc đào tạo nghề công chứng. Hơn nữa, thời gian qua, chất lượng học viên tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng được đánh giá khá tốt.

Vì vậy, Cục Bổ trợ tư pháp cho rằng việc quy định Học viện Tư pháp là cơ sở đào tạo nghề công chứng sẽ phù hợp và đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ công chứng viên chuyên nghiệp, hiện đại.

Trên đây là những nội dung cơ bản của dự thảo Thông tư hướng dẫn một số nội dung của Luật công chứng, Cục Bổ trợ tư pháp kính trình Bộ trưởng xem xét và quyết định ký ban hành Thông tư.

 

 

Nơi nhận:

– Như trên;

– Thứ trưởng Nguyễn Thúy Hiền (để báo cáo);

– Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ CVĐCXDPL, Cục Kiểm tra VBQPPL, Thanh tra Bộ, Văn phòng Bộ (để phối hợp);

– Lưu: VT, CC.

CỤC TRƯỞNG

 

 

 

 

Đỗ Hoàng Yến

 

 

DU THAO 1 THONG TU HUONG DAN LCC. 8.9.2014.doc

DỰ THẢO 01

BỘ TƯ PHÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số:           /2014/TT-BTP

 

Hà Nội, ngày       tháng       năm 2014

 

THÔNG TƯ

Hướng dẫn một số nội dung của Luật công chứng

 

Căn cứ Luật công chứng số 53/2014/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2014;

Căn cứ Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp,

Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư hướng dẫn một số nội dung của Luật công chứng.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về công chứng viên, đào tạo, bồi dưỡng nghề công chứng, tổ chức và hoạt động công chứng, chế độ báo cáo, kiểm tra, thanh tra về tổ chức và hoạt động công chứng.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên, cơ quan quản lý nhà nước về công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Chương II

CÔNG CHỨNG VIÊN

Điều 3. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên

1. Đơn đề nghị bổ nhiệm công chứng viên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 12 của Luật công chứng phải được người đề nghị bổ nhiệm công chứng viên khai đầy đủ các nội dung theo Mẫu TP-CC-01 ban hành kèm theo Thông tư này.

2. Đơn đề nghị bổ nhiệm lại công chứng viên theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 16 của Luật công chứng phải được người đề nghị bổ nhiệm công chứng viên khai đầy đủ các nội dung theo Mẫu TP-CC-02 ban hành kèm theo Thông tư này.

3. Giấy chứng nhận sức khỏe quy định tại điểm g khoản 2 Điều 12 và điểm c khoản 4 Điều 16 của Luật công chứng do cơ quan y tế có thẩm quyền từ cấp huyện trở lên cấp, trong đó có ghi rõ loại sức khỏe và xác nhận rõ về việc người được cấp giấy chứng nhận có đủ sức khỏe để công tác.

4. Giấy tờ chứng minh là người được miễn đào tạo nghề công chứng theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 12 của Luật công chứng thì tuỳ theo từng trường hợp cụ thể là một trong các giấy tờ sau đây:

a) Bản sao Quyết định bổ nhiệm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc bản sao Giấy chứng minh thẩm phán, bản sao Giấy chứng minh kiểm sát viên, bản sao Giấy chứng nhận điều tra viên.

b) Bản sao Quyết định phong hàm Giáo sư, Phó giáo sư chuyên ngành luật; bản sao bằng tiến sỹ luật.

c) Bản sao Quyết định bổ nhiệm thẩm tra viên cao cấp ngành Toà án, kiểm tra viên cao cấp ngành Kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

d) Đối với luật sư đã hành nghề từ 5 năm trở lên thì phải có bản sao thẻ luật sư và Giấy xác nhận của Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó xác nhận rõ về thời gian hành nghề luật sư.

đ) Các giấy tờ khác chứng minh là người được miễn đào tạo nghề công chứng theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp người đề nghị bổ nhiệm công chứng viên nộp bản sao thì phải mang bản chính để đối chiếu khi nộp hồ sơ.

5. Người đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính xác thực của những giấy tờ và tính chính xác của các thông tin đã khai trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp tiến hành xác minh tính chính xác, tính xác thực của những giấy tờ và thông tin đã được cung cấp trong hồ sơ. Người có hành vi giả mạo, gian dối trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên thì không được xem xét để bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên và tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 4. Đăng ký hành nghề công chứng và cấp Thẻ công chứng viên

1. Tổ chức hành nghề công chứng thực hiện việc đăng ký hành nghề và đề nghị cấp Thẻ cho công chứng viên của tổ chức mình tại Sở Tư pháp nơi tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hoạt động.

2. Hồ sơ đăng ký hành nghề công chứng và đề nghị cấp Thẻ công chứng viên gồm có:

a) Đơn đăng ký hành nghề công chứng và đề nghị cấp Thẻ công chứng viên (theo Mẫu TP-CC-04 ban hành kèm theo Thông tư này);

b) Bản sao giấy tờ chứng minh công chứng viên thường trú tại địa phương nơi tổ chức hành nghề công chứng có trụ sở;

c) Bản sao Quyết định bổ nhiệm công chứng viên;

d) 02 ảnh chân dung (cỡ 2 cm x 3 cm).

Khi nộp hồ sơ, người đề nghị phải xuất trình bản chính các Giấy tờ quy định tại điểm b, c Khoản 2 Điều này để đối chiếu.

3. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại khoản 1 Điều này, Sở Tư pháp ghi nhận việc đăng ký hành nghề, ghi tên người đăng ký hành nghề vào Danh sách công chứng viên hành nghề công chứng của Sở Tư pháp và ra quyết định cấp Thẻ công chứng viên. Trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do; người bị từ chối có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.

4. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày Sở Tư pháp ghi tên người đăng ký hành nghề vào Danh sách công chứng viên hành nghề công chứng của Sở Tư pháp và ra quyết định cấp Thẻ công chứng viên, Sở Tư pháp cập nhật vào Danh sách công chứng viên hành nghề, đăng tải Danh sách trên Cổng thông tin điện tử của Sở Tư pháp, đồng thời gửi bản Danh sách đã cập nhật cho Bộ Tư pháp để lập Danh sách công chứng viên hành nghề công chứng trong toàn quốc.

Điều 5. Thu hồi Thẻ công chứng viên

1. Sở Tư pháp nơi tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hoạt động quyết định thu hồi Thẻ công chứng viên trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật công chứng.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thu hồi Thẻ công chứng viên, Sở Tư pháp nơi tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hoạt động gửi quyết định thu hồi Thẻ công chứng viên cho người bị thu hồi Thẻ, tổ chức hành nghề công chứng nơi người đó làm việc và đăng tải thông tin về việc thu hồi Thẻ trên Cổng thông tin điện tử của Sở Tư pháp.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thu hồi Thẻ công chứng viên, Sở Tư pháp thu lại Thẻ công chứng viên của người bị thu hồi và báo cáo bằng văn bản về Bộ Tư pháp.

Người bị thu hồi Thẻ có trách nhiệm nộp lại Thẻ công chứng viên cho Sở Tư pháp. Việc thu lại Thẻ công chứng viên được Sở Tư pháp lập thành biên bản.

Điều 6. Cấp lại Thẻ công chứng viên

1. Trong trường hợp Thẻ công chứng viên đã được cấp bị mất, bị hỏng, tổ chức hành nghề công chứng nộp hồ sơ đề nghị cấp lại Thẻ công chứng viên cho công chứng viên của tổ chức mình tại Sở Tư pháp nơi tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hoạt động.

Hồ sơ gồm có:

a) Đơn đề nghị cấp lại Thẻ công chứng viên (theo Mẫu TP-CC-05 ban hành kèm theo Thông tư này);

b) 02 ảnh chân dung (cỡ 2 cm x 3 cm);

c) Thẻ công chứng viên cũ (trong trường hợp thẻ bị hỏng).

2. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp ra quyết định cấp lại Thẻ công chứng viên; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên. Thẻ công chứng viên được cấp lại được giữ nguyên số thẻ đã được Sở Tư pháp cấp trước đây nhưng với ngày cấp mới.

Chương III

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGHỀ CÔNG CHỨNG

Điều 7. Cơ sở đào tạo và bồi dưỡng nghề công chứng

1. Học viện Tư pháp thuộc Bộ Tư pháp là cơ sở thực hiện đào tạo nghề công chứng theo quy định tại Điều 9 Luật công chứng và thực hiện bồi dưỡng nghề công chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật công chứng.

2. Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề công chứng được Học viện Tư pháp cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng. Người hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề công chứng được Học viện Tư pháp cấp giấy chứng nhận hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề công chứng.

Điều 8. Công nhận tương đương đối với những người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài

1. Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài được công nhận trong các trường hợp sau đây:

a) Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài được cấp bởi cơ sở đào tạo nước ngoài thuộc phạm vi áp dụng của hiệp định về tương đương văn bằng hoặc công nhận lẫn nhau về văn bằng hoặc điều ước quốc tế có liên quan đến văn bằng mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc là thành viên;

b) Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài được cấp bởi cơ sở đào tạo mà các chương trình đào tạo đã được cơ quan kiểm định chất lượng của nước đó công nhận hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước đó cho phép thành lập và được phép cấp văn bằng, chứng chỉ hoặc giấy tờ chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài;

2. Người có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp muốn được công nhận ở Việt Nam thì gửi hồ sơ đến Bộ Tư pháp.

Hồ sơ gồm có:

a)  Đơn đề nghị công nhận Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp (theo Mẫu TP-CC-06 ban hành kèm theo Thông tư này);

b) Bản sao Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng do cơ sở đào tạo ở nước ngoài cấp;

c) Bản sao kết quả quá trình học tập tại cơ sở giáo dục nước ngoài;

d) Giấy tờ chứng minh thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này;

đ) Các giấy tờ khác có liên quan.

Các giấy tờ quy định tại điểm b, c, d, đ của khoản này phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật và được dịch ra bằng tiếng Việt; bản dịch tiếng Việt phải được chứng thực.

3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra quyết định công nhận Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài.

Điều 9. Bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm

1. Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm cho công chứng viên đang hành nghề tại địa phương.

2. Thời gian bồi dưỡng tối thiểu là 03 ngày. Nội dung bồi dưỡng bao gồm việc cập nhật mới các quy định của pháp luật về công chứng, các quy định pháp luật có liên quan và kỹ năng hành nghề công chứng.

Công chứng viên hoàn thành lớp bồi dưỡng thì được cấp Giấy chứng nhận hoàn thành lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm (theo Mẫu TP-CC-07 ban hành kèm theo Thông tư này).

3. Công chứng viên đang hành nghề công chứng không tham gia lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật hoặc theo Điều lệ của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên.

Chương IV

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

Điều 10. Biển hiệu của tổ chức hành nghề công chứng

Biển hiệu của tổ chức hành nghề công chứng phải tuân theo các quy định của pháp luật về viết, đặt biển hiệu. Biển hiệu của tổ chức hành nghề công chứng được thực hiện theo Mẫu TP-CC-08 ban hành kèm theo Thông tư này.

Điều 11. Chuyển đổi Văn phòng công chứng từ Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập thành Văn phòng công chứng hợp danh

1. Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập chuyển đổi thành Văn phòng công chứng hợp danh phải có hồ sơ đề nghị chuyển đổi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Hồ sơ gồm có:

a) Đề án chuyển đổi loại hình Văn phòng công chứng, trong đó nêu rõ dự kiến thời gian chuyển đổi, báo cáo tình hình tài chính và tổ chức hoạt động tính đến ngày đề nghị chuyển đổi, dự kiến về tổ chức, tên gọi, địa điểm đặt trụ sở, nhân sự, các điều kiện vật chất;

b) Bản sao Quyết định bổ nhiệm công chứng viên là thành viên hợp danh của Văn phòng công chứng;

c) Bản chính Quyết định thành lập Văn phòng công chứng dự kiến chuyển đổi.

Hồ sơ đề nghị chuyển đổi loại hình Văn phòng công chứng là 01 bộ và được nộp trực tiếp tại Sở Tư pháp.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều này, Sở Tư pháp trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển đổi loại hình Văn phòng công chứng. Trong trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do; người bị từ chối có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.

3. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển đổi loại hình Văn phòng công chứng. Trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do; người bị từ chối có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định cho phép chuyển đổi, Văn phòng công chứng phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp  địa phương cho phép chuyển đổi.

Hồ sơ đăng ký hoạt động gồm:

a) Đơn đăng ký hoạt động (theo Mẫu TP-CC-15 ban hành kèm theo Thông tư này);

b) Bản sao quyết định cho phép chuyển đổi loại hình Văn phòng công chứng;

c) Giấy tờ chứng minh về trụ sở của địa phương cho phép chuyển đổi trong trường hợp cho phép thay đổi trụ sở.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký hoạt động, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động cho Văn phòng công chứng. Trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do; người bị từ chối có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.

5. Trong thời gian làm thủ tục chuyển đổi và đăng ký hoạt động, Văn phòng công chứng vẫn được tiếp tục hoạt động.

Văn phòng công chứng chuyển đổi loại hình được hoạt động kể từ ngày được Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động, kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và có trách nhiệm lưu trữ toàn bộ hồ sơ, tài liệu công chứng của Văn phòng công chứng được chuyển đổi.

Điều 12. Thủ tục bàn giao hồ sơ công chứng khi tổ chức hành nghề công chứng chuyển đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hoạt động hoặc giải thể

1. Trong trường hợp Sở Tư pháp chỉ định tổ chức hành nghề công chứng nhận bàn giao hồ sơ công chứng của Phòng công chứng bị giải thể hoặc Văn phòng công chứng chấm dứt hoạt động theo quy định tại khoản 5 Điều 64 Luật công chứng thì thời hạn chỉ định chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày Phòng công chứng bị giải thể hoặc Văn phòng công chứng chấm dứt hoạt động.

Sở Tư pháp tổ chức bàn giao hồ sơ công chứng giữa Phòng công chứng bị giải thể hoặc Văn phòng công chứng chấm dứt hoạt động với tổ chức hành nghề công chứng nhận bàn giao hồ sơ. Việc giao nhận hồ sơ công chứng phải được lập thành biên bản có ký, đóng dấu của các bên và có xác nhận, đóng dấu của Sở Tư pháp.

2. Trong trường hợp chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật công chứng, chuyển nhượng Văn phòng công chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật công chứng, việc giao nhận hồ sơ công chứng phải được lập thành biên bản có ký, đóng dấu của các bên và có xác nhận, đóng dấu của Sở Tư pháp.

Điều 13. Trách nhiệm bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động

Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động; mở Sổ theo dõi việc sử dụng lao động của tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác cho người lao động theo quy định của pháp luật.

Điều 14. Lập sổ theo dõi công việc

1. Tổ chức hành nghề công chứng phải lập các loại sổ sau đây:

a) Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch: được sử dụng để ghi các việc công chứng đã được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng, phục vụ việc theo dõi, tra cứu, kiểm tra và thống kê số liệu công chứng (theo Mẫu TP-CC-09 ban hành kèm theo Thông tư này);

b) Sổ chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký: được sử dụng để ghi các việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản, phục vụ việc theo dõi, tra cứu, kiểm tra và thống kê số liệu chứng thực (theo Mẫu TP-CC-10 ban hành kèm theo Thông tư này);

c) Sổ theo dõi việc sử dụng lao động: được sử dụng để ghi việc sử dụng lao động tại tổ chức hành nghề công chứng (theo Mẫu TP-CC-11 ban hành kèm theo Thông tư này).

Các loại Sổ này phải ghi ngày mở sổ, ngày khóa sổ, được đóng dấu giáp lai từ trang đầu đến trang cuối và phải được bảo quản chặt chẽ, lưu giữ tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.

2. Ngoài các loại sổ theo quy định tại khoản 1 Điều này, tổ chức hành nghề công chứng phải lập sổ về văn thư, lưu trữ, sổ về kế toán, tài chính và các loại sổ khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

3. Việc ghi chép, bảo quản, lưu giữ các loại sổ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ, thống kê, thuế, tài chính, pháp luật về công chứng và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Chương V

CHẾ ĐỘ BÁO CÁO, KIỂM TRA, THANH TRA TỔ CHỨC,

 HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

Điều 15. Chế độ báo cáo

1. Định kỳ 6 tháng và hàng năm, tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm báo cáo Sở Tư pháp tại địa phương về tổ chức và hoạt động công chứng của tổ chức mình (theo Mẫu TP-CC-18 ban hành kèm theo Thông tư này).

Ngoài báo cáo định kỳ, tổ chức hành nghề công chứng báo cáo về tổ chức và hoạt động công chứng của tổ chức mình theo yêu cầu của Sở Tư pháp tại địa phương hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Định kỳ 6 tháng và hàng năm, Sở Tư pháp có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tổ chức và hoạt động công chứng tại địa phương.

Ngoài báo cáo định kỳ, Sở Tư pháp báo cáo về tổ chức và hoạt động công chứng tại địa phương theo yêu cầu của Bộ Tư pháp hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

3. Định kỳ 6 tháng và hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Tư pháp về tổ chức và hoạt động công chứng tại địa phương.

4. Báo cáo về tổ chức và hoạt động công chứng tại địa phương gồm những nội dung chính sau đây:

a) Tình hình tổ chức và hoạt động công chứng trên phạm vi địa phương;

b) Những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức và hoạt động công chứng;

c) Đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động công chứng tại địa phương; những đề xuất, kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước.

Kỳ báo cáo 6 tháng được tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 30 tháng 6 hàng năm. Kỳ báo cáo năm được tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 hàng năm.

Điều 16. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc kiểm tra tổ chức, hoạt động công chứng

1. Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc kiểm tra về tổ chức và hoạt động công chứng theo thẩm quyền.

2. Định kỳ mỗi năm một lần, Sở Tư pháp có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện kiểm tra về tổ chức và hoạt động công chứng tại địa phương. Trong trường hợp cần thiết, Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành có liên quan giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra về tổ chức và hoạt động công chứng tại địa phương. Thời gian và nội dung kiểm tra phải được thông báo bằng văn bản cho đối tượng kiểm tra chậm nhất là bảy ngày làm việc trước khi tiến hành kiểm tra.

Sở Tư pháp có thể thực hiện kiểm tra đột xuất theo yêu cầu của Bộ Tư pháp hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong trường hợp phát hiện tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong tổ chức và hoạt động công chứng.

Điều 17. Nguyên tắc kiểm tra tổ chức, hoạt động công chứng

Việc kiểm tra tổ chức, hoạt động công chứng cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

1. Công khai, khách quan, minh bạch và đúng kế hoạch đã được phê duyệt, trừ trường hợp kiểm tra đột xuất.

2. Bảo đảm tính bảo mật trong hành nghề công chứng theo quy định của Luật công chứng và các quy định của pháp luật có liên quan.

3. Tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng và các quy định của pháp luật có liên quan.

Điều 18. Nội dung kiểm tra

1. Đối với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên, việc kiểm tra tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên theo quy định của pháp luật công chứng và Điều lệ của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên;

b) Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật công chứng và các văn bản pháp luật có liên quan;

c) Việc thực hiện các quy định của pháp luật về tài chính, kế toán, thống kê;

d) Việc báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất; lập các sổ sách và lưu trữ các giấy tờ tài liệu theo quy định của Luật công chứng và các quy định của pháp luật có liên quan.

đ) Việc thực hiện các quy định của pháp luật về hợp tác quốc tế và các quy định khác của pháp luật về công chứng.

2. Đối với tổ chức hành nghề công chứng, việc kiểm tra tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Việc thực hiện các quy định về đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng.

b) Việc thực hiện các quy định của pháp luật về công chức, viên chức, pháp luật về lao động;

c) Việc thực hiện các quy định của pháp luật về thuế, tài chính, kế toán, thống kê;

d) Việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng theo quy định của Luật công chứng và các quy định của pháp luật có liên quan;

đ) Việc báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất; lập các sổ sách và lưu trữ các giấy tờ tài liệu theo quy định của Luật công chứng và các quy định của pháp luật có liên quan;

e) Việc thực hiện các quy định khác của pháp luật về công chứng.

3. Đối với công chứng viên, nội dung kiểm tra tập trung vào việc tuân thủ các quy định của pháp luật về công chứng, Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng và các quy định của pháp luật có liên quan.

4. Đối với Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, việc kiểm tra tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Việc thực hiện các quy định của Luật công chứng và quy định của pháp luật có liên quan về việc cấp, thay đổi, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng; cấp, cấp lại, thu hồi thẻ công chứng viên.

b) Việc báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất, việc lập các sổ sách và lưu trữ các giấy tờ tài liệu theo quy định của Luật công chứng và các quy định của pháp luật có liên quan;

c) Việc thực hiện các quy định khác của pháp luật về công chứng và hành nghề công chứng.

Điều 19. Nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn kiểm tra

1. Đoàn kiểm tra gồm có Trưởng đoàn và các thành viên. Trưởng Đoàn kiểm tra là đại diện lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước về công chứng. Các thành viên Đoàn kiểm tra bao gồm đại diện của các cơ quan, tổ chức có liên quan.

2. Trưởng Đoàn kiểm tra có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Chỉ đạo thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định kiểm tra;

b) Gia hạn kiểm tra trong trường hợp cần thiết;

c) Yêu cầu đối tượng kiểm tra cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung kiểm tra;

d) Lập biên bản kiểm tra; xây dựng báo cáo kết quả kiểm tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của biên bản, báo cáo đó;

đ) Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành vi hành chính, quyết định hành chính liên quan đến các thành viên của Đoàn kiểm tra.

3. Các thành viên trong Đoàn kiểm tra thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng Đoàn kiểm tra và có trách nhiệm bảo mật thông tin liên quan đến đối tượng kiểm tra.

Điều 20. Quyền và nghĩa vụ của đối tượng kiểm tra

1. Đối tượng kiểm tra có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu thành viên Đoàn kiểm tra và các cơ quan, tổ chức có liên quan giữ bí mật thông tin theo quy định của pháp luật;

b) Nhận biên bản kiểm tra và yêu cầu giải thích nội dung biên bản kiểm tra;

c) Bảo lưu ý kiến trong biên bản kiểm tra;

d) Từ chối việc kiểm tra khi không có quyết định kiểm tra; từ chối cung cấp thông tin, tài liệu không liên quan đến nội dung kiểm tra, thông tin, tài liệu thuộc bí mật Nhà nước hoặc bí mật của khách hàng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

đ) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình kiểm tra;

e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Đối tượng kiểm tra có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chấp hành Quyết định kiểm tra;

b) Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung kiểm tra theo yêu cầu của Đoàn kiểm tra; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp;

c) Ký biên bản kiểm tra sau khi kết thúc kiểm tra;

d) Chấp hành quyết định của Đoàn kiểm tra;

đ) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 21. Trình tự, thủ tục kiểm tra

1. Công bố quyết định kiểm tra khi bắt đầu tiến hành kiểm tra.

2. Đối chiếu, kiểm tra, đánh giá nội dung báo cáo và các sổ sách, giấy tờ, tài liệu được xuất trình theo quy định của pháp luật.

3. Lập biên bản kiểm tra sau khi kết thúc kiểm tra.

4. Xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật.

Điều 22. Thanh tra tổ chức, hoạt động công chứng

Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện thanh tra về tổ chức và hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật về thanh tra.

Sở Tư pháp có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc thanh tra về tổ chức và hoạt động công chứng tại địa phương theo quy định của pháp luật về thanh tra.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 23. Điều khoản chuyển tiếp

Thẻ công chứng viên được cấp trước ngày Luật công chứng số 53/2014/QH13 có hiệu lực thi hành được giữ nguyên giá trị. Trường hợp công chứng viên đã được cấp thẻ bị mất thẻ hoặc thẻ bị hỏng kể từ ngày Luật công chứng số 53/2014/QH13 có hiệu lực thì thủ tục cấp lại Thẻ được thực hiện theo quy định tại Điều 6 của Thông tư này.

Điều 24. Biểu mẫu kèm theo

Ban hành kèm theo Thông tư này các mẫu giấy tờ sau đây:

1. Đơn đề nghị bổ nhiệm công chứng viên (Mẫu TP-CC-01).

2. Đơn đề nghị bổ nhiệm lại công chứng viên (Mẫu TP-CC-02).

3. Thẻ công chứng viên (Mẫu TP-CC-03).

4. Đơn đăng ký hành nghề công chứng và đề nghị cấp lại Thẻ công chứng viên (Mẫu TP-CC-04).

5. Đơn đề nghị cấp lại Thẻ công chứng viên (Mẫu TP-CC-05).

6. Đơn đề nghị công nhận Giấy chứng nhận đào tạo nghề công chứng do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp (Mẫu TP-CC-06).

7. Giấy chứng nhận hoàn thành lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm (Mẫu TP-CC-07).

8. Biển hiệu tổ chức hành nghề công chứng (Mẫu TP-CC-08).

9. Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch (Mẫu TP-CC-09).

10. Sổ chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (Mẫu TP-CC-10);

11. Sổ theo dõi việc sử dụng lao động (Mẫu TP-CC-11).

12. Mẫu lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch (Mẫu TP-CC-12).

13. Mẫu lời chứng của công chứng viên đối với bản dịch (Mẫu TP-CC-13).

14. Đơn đề nghị thành lập Văn phòng công chứng (Mẫu TP-CC-14).

15. Đơn đăng ký hoạt động Văn phòng công chứng (Mẫu TP-CC-15).

16.  Quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng (Mẫu TP-CC-16);

17. Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng (Mẫu TP-CC-17).

18. Báo cáo về tổ chức và hoạt động công chứng của tổ chức hành nghề công chứng (Mẫu TP-CC-18).

Điều 25. Hiệu lực thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày …. tháng … năm 2015 và thay thế Thông tư số 11/2011/TT-BTP ngày 27 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số nội dung về công chứng viên, tổ chức và hoạt động công chứng, quản lý nhà nước về công chứng.

2. Bãi bỏ Quyết định số 01/2008/QĐ-BTP ngày 20 tháng 02 năm 2008 về việc ban hành một số mẫu giấy tờ dùng trong hoạt động công chứng.

Điều 26. Trách nhiệm thi hành

Chánh Văn phòng, Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ, Giám đốc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.

 

 

Nơi nhận:

– Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);

– Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc (để báo cáo);

– Văn phòng Chính phủ;

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

– UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

– Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

– Hội công chứng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

– Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ;

– Bộ Tư pháp: Các Thứ trưởng, các đơn vị thuộc Bộ;

– Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (BTP);

– Công báo; Website Chính phủ;

– Cổng thông tin Bộ Tư pháp;

– Lưu: VT, Cục BTTP.

BỘ TRƯỞNG

 

 

 

Hà Hùng Cường

 

 

Bộ Tư pháp tổ chức họp lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo Thông tư hướng dẫn một số nội dung của Luật công chứng
Đánh giá bài viết!

Leave a Reply


eight + = 17

*