Home › Công nhận văn bằng nước ngoài › Quy định mới về công nhận văn bằng nước ngoài theo Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT

Quy định mới về công nhận văn bằng nước ngoài theo Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT

Ngày 11/08/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam. Thông tư áp dụng đối với văn bằng giáo dục phổ thông, văn bằng giáo dục nghề nghiệp và văn bằng giáo dục đại học.

Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 26/09/2026 và thay thế Thông tư 13/2021/TT-BGDĐT, Thông tư 07/2024/TT-BGDĐT và Thông tư 34/2017/TT-BLĐTBXH, trừ các trường hợp chuyển tiếp được quy định riêng.

So với quy định trước đây, Thông tư mới có nhiều nội dung đáng chú ý liên quan đến điều kiện công nhận theo từng phương thức đào tạo, hồ sơ điện tử, dữ liệu VNeID, văn bằng tiếng Anh, thời gian giải quyết, kết quả công nhận và cơ chế xác thực văn bằng. Tải thông tư Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT.

Những điểm mới đáng chú ý nhất của Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT

Thông tư 65/2026/TT-BGDĐTCó thể tóm lược những thay đổi nổi bật như sau:

  • Phân loại rõ điều kiện công nhận theo từng phương thức và địa điểm đào tạo;
  • Quy định riêng đối với chương trình học tại Việt Nam, học tại nước thứ ba và học trực tuyến;
  • Bổ sung điều kiện riêng cho văn bằng giáo dục nghề nghiệp;
  • Bổ sung điều kiện tối thiểu 12 tháng học tập, nghiên cứu trực tiếp đối với một trường hợp bằng tiến sĩ có nghiên cứu thực địa tại nước khác;
  • Quy định cụ thể điều kiện công nhận bằng tiến sĩ dựa trên kết quả nghiên cứu, công trình khoa học đã có;
  • Cho phép sử dụng dữ liệu xuất nhập cảnh từ VNeID hoặc hệ thống dịch vụ công quốc gia;
  • Tăng sử dụng văn bằng, bảng điểm số và thông tin xác thực trực tiếp;
  • Quy định trường hợp văn bằng bằng tiếng Anh được nộp mà không cần bản dịch tiếng Việt;
  • Thực hiện hồ sơ trên Cổng Dịch vụ công quốc gia;
  • Không phụ thuộc địa giới hành chính khi tiếp nhận, giải quyết hồ sơ;
  • Rút thời gian tối đa đối với hồ sơ cần xác minh xuống còn 30 ngày làm việc;
  • Giấy công nhận có thể là bản giấy, văn bản điện tử hoặc văn bản số;
  • Kết quả công nhận được cập nhật vào cơ sở dữ liệu và kết nối VNeID theo lộ trình;
  • Quy định rõ hơn trường hợp miễn thủ tục công nhận nhưng vẫn phải kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của văn bằng;
  • Quy định rõ việc hủy Giấy công nhận nếu văn bằng không hợp pháp hoặc hồ sơ không trung thực;
  • Mẫu Phiếu đề nghị mới yêu cầu khai cụ thể phương thức/hình thức và thời gian đào tạo.

Quy định rõ hơn khái niệm công nhận văn bằng và việc xác định trình độ tương đương

Theo Điều 2 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT, công nhận văn bằng là việc xác nhận trình độ của người học được ghi trên văn bằng theo hệ thống giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục nước ngoài đặt trụ sở chính và xác định mức độ tương đương với bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam khi có cơ sở đối chiếu phù hợp.

Việc xác định tương đương được thực hiện dựa trên:

  • Chuẩn đầu vào;
  • Khối lượng học tập;
  • Bậc trình độ.

Điểm đáng chú ý là nếu văn bằng đủ điều kiện công nhận nhưng không xác định được mức độ tương đương với một bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam thì cơ quan có thẩm quyền vẫn cung cấp thông tin về văn bằng theo hệ thống giáo dục của nước cấp bằng.

Như vậy, công nhận văn bằng và xác định trình độ tương đương không phải lúc nào cũng đồng nhất.

Công nhận văn bằng được xác định rõ là một dịch vụ công

Thông tư mới quy định rõ công nhận văn bằng là dịch vụ công.

Thủ tục được thực hiện theo nhu cầu của:

  • Người có văn bằng;
  • Tổ chức sử dụng lao động khi có sự đồng ý của người có văn bằng.

Quy định này làm rõ nguyên tắc rằng không phải mọi văn bằng nước ngoài đều tự động phải thực hiện thủ tục công nhận, mà việc công nhận được thực hiện khi phát sinh nhu cầu sử dụng.

Điều kiện công nhận được phân loại cụ thể theo phương thức và địa điểm đào tạo

Một trong những thay đổi quan trọng nhất của Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT là điều kiện công nhận không chỉ được quy định chung mà còn được phân chia cụ thể theo nơi học và phương thức đào tạo.

Theo khoản 1 Điều 3, văn bằng phải do cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động hợp pháp, có chương trình giáo dục bảo đảm chất lượng cấp cho người học.

Ngoài điều kiện chung này, từng trường hợp còn phải đáp ứng điều kiện riêng tùy phương thức đào tạo.

Học trực tiếp tại nước nơi trường đặt trụ sở chính

Nếu người học học tập trực tiếp tại nước nơi cơ sở giáo dục nước ngoài đặt trụ sở chính, văn bằng được công nhận nếu đáp ứng điều kiện chung tại khoản 1 Điều 3.

Đây là nhóm trường hợp tương đối rõ ràng nhất vì cơ sở cấp bằng và địa điểm đào tạo nằm trong cùng hệ thống pháp lý của một quốc gia.

Quy định rõ đối với chương trình của trường nước ngoài thực hiện tại Việt Nam

Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài có hoạt động giáo dục, đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết đào tạo hoặc mở phân hiệu tại Việt Nam cấp chỉ được công nhận khi hoạt động đào tạo được triển khai hợp pháp tại Việt Nam.

Chương trình phải đáp ứng các điều kiện về:

  • Phê duyệt chương trình;
  • Tuyển sinh;
  • Thời lượng chương trình;
  • Các điều kiện khác theo pháp luật tại thời điểm thực hiện chương trình để cấp văn bằng.

Ngoài ra, văn bằng vẫn phải đáp ứng điều kiện chung tại khoản 1 Điều 3.

Đây là điểm rất quan trọng đối với người học chương trình liên kết quốc tế tại Việt Nam. Không chỉ cần kiểm tra trường nước ngoài có hợp pháp hay không mà còn phải kiểm tra chương trình đó có được triển khai hợp pháp tại Việt Nam hay không.

Quy định riêng đối với chương trình học tại nước thứ ba

Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT quy định cụ thể đối với trường hợp trường cấp bằng đặt trụ sở chính tại một nước nhưng chương trình được tổ chức tại một nước khác, không bao gồm Việt Nam.

Ngoài điều kiện chung, cơ sở đào tạo hoặc chương trình tại nước nơi người học thực tế học phải đáp ứng ít nhất một trong các điều kiện sau:

  • Được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc kiểm định chất lượng;
  • Được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục cho phép hoạt động đào tạo hoặc cho phép cấp bằng;
  • Chương trình được cơ quan có thẩm quyền cho phép thực hiện hoặc được kiểm định chất lượng.

Như vậy, đối với chương trình xuyên quốc gia, cần xem xét cả trường cấp bằng và cơ sở hoặc chương trình tại nước nơi đào tạo thực tế.

Quy định rõ điều kiện công nhận văn bằng học từ xa, trực tuyến

Thông tư mới có quy định cụ thể đối với chương trình đào tạo từ xa, gồm:

  • Trực tuyến;
  • Trực tuyến kết hợp trực tiếp;
  • Đào tạo từ xa qua mạng máy tính và viễn thông;
  • Thư tín;
  • Phát thanh – truyền hình;
  • Các phương thức đào tạo từ xa khác.

Văn bằng thuộc các chương trình này được công nhận nếu đáp ứng điều kiện chung và người học lưu trú, học tập tại nước nào thì chương trình phải được cấp có thẩm quyền về giáo dục của nước đó cho phép thực hiện.

Đây là một điểm mới rất đáng chú ý đối với người học online.

Người học tại Việt Nam theo chương trình trực tuyến của trường nước ngoài cần lưu ý rằng việc công nhận không chỉ phụ thuộc vào tính hợp pháp của trường cấp bằng mà còn liên quan đến điều kiện pháp lý của chương trình tại nơi người học thực tế lưu trú và học tập.

Bổ sung điều kiện riêng đối với văn bằng giáo dục nghề nghiệp

Văn bằng giáo dục nghề nghiệp do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp ngoài việc đáp ứng điều kiện chung và điều kiện tương ứng với phương thức đào tạo còn phải:

  • Bảo đảm tương đương về điều kiện trình độ tuyển đầu vào;
  • Tương thích về thời lượng học tập tính theo năm học hoặc theo số tín chỉ tích lũy ở cuối khóa học với các bậc trình độ của Việt Nam.

Như vậy, với văn bằng giáo dục nghề nghiệp, quy định mới chú trọng hơn đến việc đối chiếu đầu vào và khối lượng đào tạo với hệ thống trình độ của Việt Nam.

Quy định mới đối với bằng tiến sĩ có nghiên cứu thực địa tại nước khác

Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT bổ sung quy định riêng đối với bằng tiến sĩ được đào tạo trực tiếp tại cơ sở giáo dục nước ngoài nhưng có thực hiện nghiên cứu thực địa tại nước khác.

Để được công nhận, ngoài điều kiện chung, thời gian học tập và nghiên cứu trực tiếp tại cơ sở đào tạo phải tối thiểu 12 tháng trong toàn khóa học.

Đây là điều kiện mới cần đặc biệt lưu ý đối với các chương trình tiến sĩ mà người học dành phần lớn thời gian nghiên cứu tại một quốc gia khác với nơi cơ sở đào tạo đặt trụ sở.

Tuy nhiên, quy định này không đồng nghĩa với việc mọi bằng tiến sĩ nước ngoài đều bắt buộc phải có 12 tháng học trực tiếp ở nước ngoài. Điều kiện này áp dụng cho đúng trường hợp được quy định tại khoản 7 Điều 3.

Quy định mới đối với bằng tiến sĩ cấp trên cơ sở công nhận công trình nghiên cứu đã có

Một điểm mới quan trọng khác là Thông tư quy định điều kiện công nhận bằng tiến sĩ được cấp theo hình thức công nhận kết quả nghiên cứu, công trình khoa học đã có.

Để được công nhận, ngoài điều kiện chung, người học phải:

  • Có người hướng dẫn khoa học;
  • Hoàn thành đầy đủ yêu cầu học thuật của chương trình đào tạo tiến sĩ;
  • Bảo vệ luận án trước hội đồng học thuật theo quy định của cơ sở đào tạo.

Đồng thời, cơ sở đào tạo phải xác nhận:

  • Các kết quả nghiên cứu, công trình khoa học đã có là một phần của chương trình đào tạo tiến sĩ;
  • Kết quả học tập, nghiên cứu đáp ứng chuẩn đầu ra của chuẩn chương trình đào tạo tiến sĩ thuộc ngành, lĩnh vực tương ứng của Việt Nam.

Như vậy, loại bằng tiến sĩ này không bị loại khỏi phạm vi công nhận, nhưng phải đáp ứng các điều kiện chặt chẽ hơn về quá trình đào tạo và chuẩn đầu ra.

Bổ sung cơ chế xử lý trường hợp bất khả kháng và trường hợp đặc thù

Thông tư quy định việc công nhận văn bằng đối với người học bị ảnh hưởng bởi:

  • Chiến tranh;
  • Thiên tai;
  • Dịch bệnh;
  • Hỏa hoạn;
  • Trường hợp bất khả kháng;
  • Trường hợp đặc thù khác

do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định, với điều kiện kết quả học tập, nghiên cứu đáp ứng chuẩn đầu ra của chuẩn chương trình đào tạo thuộc ngành, lĩnh vực tương ứng của Việt Nam.

Đây là cơ chế xử lý linh hoạt đối với các trường hợp người học không thể hoàn thành quá trình đào tạo theo điều kiện thông thường vì nguyên nhân khách quan.

Thẩm quyền công nhận văn bằng được quy định rõ

Theo Điều 4:

  • Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận văn bằng giáo dục nghề nghiệp và văn bằng giáo dục đại học;
  • Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo công nhận bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông và chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông.

Quy định này giúp người có văn bằng xác định rõ cơ quan có thẩm quyền tương ứng với từng loại văn bằng.

Hồ sơ có thể sử dụng dữ liệu xuất nhập cảnh từ VNeID

Một điểm mới nổi bật trong thủ tục là việc sử dụng dữ liệu xuất nhập cảnh điện tử.

Đối với các trường hợp thuộc khoản 2, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 3, hồ sơ có thể sử dụng:

  • Dữ liệu xuất nhập cảnh trong thời gian học ở nước ngoài được trích xuất từ VNeID hoặc hệ thống dịch vụ công quốc gia;
  • Bản sao thị thực nhập cảnh nước đi học.

Nếu chưa có dữ liệu này thì mới sử dụng các giấy tờ khác như hộ chiếu, visa, dấu xuất nhập cảnh, xác nhận thông tin xuất nhập cảnh, quyết định cử đi học và tiếp nhận hoặc giấy tờ minh chứng khác.

Điểm mới này giúp giảm phụ thuộc vào hồ sơ giấy và hỗ trợ cơ quan giải quyết khai thác dữ liệu điện tử.

Hồ sơ được nộp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia

Thông tư quy định người đề nghị:

  • Cung cấp thông tin theo Phụ lục I;
  • Tải hồ sơ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia;
  • Thanh toán phí theo quy định.

Đối với thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia, người đề nghị không phải nộp bản giấy hoặc bản chứng thực điện tử.

Đây là một trong những thay đổi đáng chú ý theo hướng số hóa toàn bộ quy trình công nhận văn bằng.

Văn bằng và bảng điểm điện tử được sử dụng thuận lợi hơn

Nếu người đề nghị có:

  • Văn bằng hoặc bảng điểm dạng số;
  • Văn bằng hoặc bảng điểm dạng điện tử;
  • Thông tin xác thực trực tiếp từ cơ sở giáo dục cấp bằng;
  • Thông tin xác thực trực tiếp từ cơ quan có thẩm quyền xác thực văn bằng,

thì có thể tải bản quét hồ sơ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia mà không cần chứng thực điện tử từ bản chính.

Đây là một thay đổi quan trọng đối với các trường nước ngoài hiện nay đã chuyển sang cấp bằng điện tử, bảng điểm điện tử hoặc sử dụng hệ thống xác minh trực tuyến.

Điểm mới quan trọng: văn bằng bằng tiếng Anh có trường hợp không cần dịch sang tiếng Việt

Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT quy định:

Trường hợp văn bằng có ngôn ngữ bằng tiếng Anh, người đề nghị thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 5 có thể tải bản quét các thành phần hồ sơ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia mà không cần bản dịch sang tiếng Việt.

Đây là một thay đổi rất đáng chú ý.

Tuy nhiên, cần hiểu đúng rằng quy định này gắn với trường hợp hồ sơ cụ thể tại điểm b khoản 3 Điều 5, không nên diễn giải thành “mọi bằng tiếng Anh trong mọi trường hợp đều không cần dịch”.

Không có minh chứng xác thực trực tiếp thì phải dùng bản chứng thực điện tử hoặc bản giấy

Nếu người đề nghị không có thông tin, minh chứng để xác thực trực tiếp, hồ sơ phải được tải dưới dạng bản chứng thực điện tử từ bản chính hoặc gửi bản giấy theo quy định.

Riêng văn bản ủy quyền xác minh thông tin về văn bằng không cần thực hiện chứng thực bản sao điện tử.

Như vậy, Thông tư mới phân biệt khá rõ giữa hồ sơ có khả năng xác thực trực tiếp và hồ sơ không có khả năng xác thực trực tiếp.

Cho phép nộp trực tiếp hoặc qua bưu chính khi có lý do bất khả kháng

Nếu người đề nghị không thể tải hồ sơ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia vì lý do bất khả kháng thì được:

  • Nộp hồ sơ trực tiếp;
  • Hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính.

Quy định này bảo đảm vẫn có phương án xử lý trong trường hợp không thể thực hiện thủ tục trực tuyến.

Rút ngắn thời hạn tối đa đối với hồ sơ cần xác minh

Thông tư quy định thời hạn giải quyết thông thường là 20 ngày làm việc kể từ thời điểm hồ sơ được tiếp nhận đầy đủ.

Nếu phải xác minh thông tin từ cơ sở giáo dục nước ngoài hoặc làm rõ thông tin liên quan đến văn bằng thì thời hạn trả kết quả không vượt quá 30 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.

Đây là một điểm mới quan trọng về thủ tục.

Theo quy định trước đây tại Thông tư 13/2021/TT-BGDĐT, trường hợp cần xác minh có thể kéo dài tối đa 45 ngày làm việc. Thông tư 65 rút thời gian tối đa xuống còn 30 ngày làm việc.

Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ không phụ thuộc địa giới hành chính

Thông tư quy định rõ:

Việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục công nhận văn bằng không phụ thuộc vào địa giới hành chính.

Đây là một thay đổi thuận lợi cho người có văn bằng vì thủ tục được định hướng xử lý trên môi trường điện tử thay vì gắn chặt với nơi cư trú.

Giấy công nhận có thể là bản giấy, bản điện tử hoặc văn bản số

Kết quả công nhận văn bằng được ghi trên Giấy công nhận văn bằng.

Theo Thông tư mới, Giấy công nhận có thể được thể hiện dưới dạng:

  • Văn bản giấy;
  • Văn bản điện tử;
  • Văn bản số.

Ba hình thức này có giá trị như nhau.

Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc sử dụng kết quả công nhận văn bằng hoàn toàn trên môi trường số.

Kết quả công nhận được cập nhật vào cơ sở dữ liệu và kết nối VNeID

Kết quả công nhận được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về công nhận văn bằng.

Thông tin tra cứu từ cơ sở dữ liệu hoặc hiển thị trên ứng dụng VNeID có giá trị xác minh thay cho việc cơ quan có thẩm quyền phải xác minh bằng văn bản.

Cơ sở dữ liệu về công nhận văn bằng được kết nối với VNeID theo lộ trình.

Đây là một điểm mới quan trọng về số hóa và xác thực kết quả công nhận.

Văn bằng đủ điều kiện nhưng không tương thích thời gian đào tạo vẫn có cách ghi nhận

Nếu văn bằng đủ điều kiện công nhận nhưng:

  • Thời gian đào tạo không tương thích với trình độ đào tạo của Việt Nam;
  • Hoặc không xác định được mức độ tương đương với các bậc trình độ của Khung trình độ quốc gia Việt Nam,

thì trên Giấy công nhận sẽ cung cấp thông tin liên quan đến văn bằng theo hệ thống giáo dục của nước cấp bằng.

Điều này giúp tránh cách hiểu rằng chỉ cần không xác định được tương đương là văn bằng đương nhiên bị từ chối công nhận.

Quy định rõ các trường hợp được miễn thủ tục công nhận

Thông tư quy định miễn thủ tục công nhận đối với:

  • Văn bằng thuộc phạm vi áp dụng của hiệp định, thỏa thuận công nhận lẫn nhau về văn bằng hoặc điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập;
  • Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người đi học bằng ngân sách nhà nước được Bộ Giáo dục và Đào tạo cử đi học và tiếp nhận về nước.

Tuy nhiên, miễn thủ tục công nhận không đồng nghĩa với miễn kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của văn bằng.

Cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tiếp nhận văn bằng vẫn có trách nhiệm kiểm tra, xác minh khi cần thiết.

Giấy công nhận có thể bị hủy nếu hồ sơ không trung thực

Thông tư quy định Giấy công nhận văn bằng bị hủy bỏ khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện:

  • Văn bằng được cấp không hợp pháp;
  • Hồ sơ đề nghị công nhận văn bằng không trung thực.

Ngược lại, nếu thông tin trên Giấy công nhận có sai sót hoặc lỗi kỹ thuật thì được xem xét cấp lại theo quy định.

Quy định này làm rõ hơn trách nhiệm của người đề nghị đối với tính trung thực của hồ sơ.

Cơ sở giáo dục đại học được tự chủ đánh giá văn bằng để sử dụng nội bộ

Một điểm đáng chú ý khác là cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp được căn cứ Điều 3 để tự chủ đánh giá văn bằng phục vụ hoạt động đào tạo nội bộ và phải chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá.

Khi cần thiết, cơ sở giáo dục có thể yêu cầu người học sử dụng dịch vụ công về công nhận văn bằng.

Quy định này cho phép các cơ sở giáo dục có mức độ chủ động cao hơn khi xử lý văn bằng nước ngoài trong hoạt động đào tạo của chính mình.

Mẫu Phiếu đề nghị mới yêu cầu khai rõ phương thức và địa điểm đào tạo

Phụ lục I của Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT yêu cầu người đề nghị khai khá chi tiết về văn bằng, gồm:

  • Trình độ đào tạo;
  • Tên cơ sở cấp văn bằng;
  • Tên cơ sở thực hiện đào tạo nếu khác với cơ sở cấp bằng;
  • Ngày cấp văn bằng;
  • Phương thức/Hình thức đào tạo;
  • Thời gian đào tạo;
  • Lĩnh vực/ngành/chuyên ngành đào tạo;
  • Minh chứng xác thực văn bằng.

Đáng chú ý, tại trường Phương thức/Hình thức đào tạo, mẫu nêu rõ các dạng như:

  • Trực tiếp tại nước ngoài;
  • Liên kết tại…;
  • Trực tuyến tại…;
  • Trực tuyến kết hợp trực tiếp tại….

Điều này cho thấy phương thức và địa điểm đào tạo trở thành thông tin quan trọng trong quá trình xem xét công nhận văn bằng.

Không yêu cầu chữ ký khi khai Phiếu điện tử

Phụ lục I quy định nếu người đề nghị khai thông tin theo biểu mẫu điện tử trên Cổng Dịch vụ công quốc gia thì không yêu cầu chữ ký.

Nếu đề nghị công nhận từ 02 văn bằng trở lên thì phải ghi rõ nội dung của Mục II – Thông tin văn bằng theo từng văn bằng.

Đây là những thay đổi nhỏ nhưng rất thực tế đối với người trực tiếp thực hiện hồ sơ.

Điều khoản chuyển tiếp cần đặc biệt lưu ý

Không phải mọi hồ sơ từ ngày Thông tư được ban hành đều chuyển sang áp dụng ngay quy định mới.

Hồ sơ đã nộp cho cơ quan có thẩm quyền trước ngày 26/09/2026 tiếp tục áp dụng theo quy định cũ.

Riêng bằng tiến sĩ đào tạo trực tiếp tại cơ sở giáo dục nước ngoài và thực hiện nghiên cứu thực địa tại nước khác, nếu chương trình được tuyển sinh trước ngày Thông tư 65 có hiệu lực thì tiếp tục áp dụng thủ tục công nhận theo Thông tư 13/2021/TT-BGDĐT và Thông tư 07/2024/TT-BGDĐT.

Đối với chương trình liên kết giáo dục hoặc liên kết đào tạo đã có kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm tra hoặc cấp có thẩm quyền trước ngày Thông tư có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo kết luận đó.

Người có văn bằng nước ngoài cần lưu ý gì từ ngày 26/09/2026?

Từ các quy định mới, người có văn bằng nước ngoài nên kiểm tra hồ sơ theo đúng bản chất của quá trình học, thay vì chỉ kiểm tra tên trường.

Đặc biệt cần xác định rõ:

  • Trường nào cấp bằng;
  • Cơ sở nào trực tiếp đào tạo;
  • Người học thực tế học tại quốc gia nào;
  • Học trực tiếp, liên kết, trực tuyến hay kết hợp;
  • Chương trình có được phép thực hiện tại nơi người học lưu trú, học tập hay không;
  • Thời gian đào tạo có phù hợp hay không;
  • Có nguồn xác thực trực tiếp văn bằng hay không;
  • Có thuộc trường hợp được miễn dịch tiếng Việt hoặc miễn thủ tục công nhận hay không.

Các thông tin này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc hồ sơ có đủ điều kiện công nhận và có cần xác minh bổ sung hay không.

Quy định mới về công nhận văn bằng theo Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 26/09/2026; hồ sơ và một số chương trình thuộc trường hợp chuyển tiếp vẫn tiếp tục áp dụng quy định cũ theo Điều 9 của Thông tư. Liên hệ tư vấn: 0983 15 89 79/ 093 678 4560.

5/5 - (1 bình chọn)
Liên hệ