Việc công nhận văn bằng nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện theo Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT ngày 11/8/2026 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam.
Theo Điều 3 của Thông tư, việc công nhận văn bằng được xem xét dựa trên tính hợp pháp của cơ sở giáo dục, chất lượng chương trình đào tạo, thẩm quyền cấp bằng và phương thức tổ chức học tập. Tùy trường hợp cụ thể, văn bằng còn phải đáp ứng những điều kiện bổ sung tương ứng với địa điểm và hình thức đào tạo.
Điều kiện chung để công nhận văn bằng nước ngoài

Thứ nhất, cơ sở giáo dục được cơ quan có thẩm quyền cho phép đào tạo và cấp văn bằng.
Cơ sở giáo dục cấp văn bằng phải được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của quốc gia nơi đặt trụ sở chính cho phép tổ chức đào tạo và cho phép cấp loại văn bằng mà người học đề nghị công nhận.
Thứ hai, cơ sở giáo dục được kiểm định chất lượng và văn bằng được công nhận tại nước cấp bằng.
Cơ sở giáo dục cấp bằng phải được tổ chức có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục của quốc gia nơi đặt trụ sở chính kiểm định chất lượng. Đồng thời, văn bằng đề nghị công nhận phải được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của quốc gia đó công nhận.
Thứ ba, chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu kiểm định hoặc được cho phép đào tạo, đồng thời văn bằng được công nhận.
Chương trình giáo dục phải được tổ chức có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục của quốc gia nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính kiểm định, hoặc được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của quốc gia đó cho phép đào tạo. Đồng thời, văn bằng đề nghị công nhận phải được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của quốc gia nơi đặt trụ sở chính công nhận.
Như vậy, việc xem xét công nhận không chỉ dựa vào tên trường, tên văn bằng hay quốc gia cấp bằng. Cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo và văn bằng phải đáp ứng các điều kiện pháp lý, chất lượng tương ứng theo quy định.
Điều kiện công nhận văn bằng đối với từng phương thức đào tạo
Ngoài các điều kiện chung nêu trên, khoản 2 đến khoản 7 Điều 3 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT quy định những yêu cầu cụ thể đối với từng phương thức đào tạo và địa điểm học tập.
1. Văn bằng của người học trực tiếp tại nước ngoài
Theo khoản 2 Điều 3, văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người học học tập trực tiếp tại quốc gia nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính được công nhận nếu đáp ứng các điều kiện chung tại khoản 1 Điều 3.
2. Văn bằng từ chương trình liên kết hoặc cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Theo khoản 3 Điều 3, văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài có hoạt động giáo dục, đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết đào tạo hoặc mở phân hiệu tại Việt Nam cấp được công nhận khi đáp ứng đồng thời các yêu cầu sau:
- Hoạt động giáo dục, đào tạo được triển khai hợp pháp tại Việt Nam.
- Đáp ứng điều kiện về phê duyệt chương trình.
- Đáp ứng điều kiện về tuyển sinh.
- Đáp ứng yêu cầu về thời lượng chương trình.
- Đáp ứng các điều kiện khác theo quy định pháp luật tại thời điểm thực hiện chương trình để cấp văn bằng.
- Đồng thời đáp ứng các điều kiện chung quy định tại khoản 1 Điều 3.
Do đó, đối với văn bằng thuộc chương trình liên kết hoặc chương trình đào tạo được triển khai tại Việt Nam, cần xem xét cả tính hợp pháp của hoạt động đào tạo tại Việt Nam và điều kiện của cơ sở giáo dục, chương trình cấp bằng ở nước ngoài.
3. Văn bằng từ cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo tại quốc gia khác
Theo khoản 4 Điều 3, trường hợp cơ sở giáo dục nước ngoài có hoạt động giáo dục, đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết đào tạo hoặc có phân hiệu tại một quốc gia khác với quốc gia nơi đặt trụ sở chính, không bao gồm Việt Nam, văn bằng được xem xét công nhận khi đáp ứng các điều kiện chung tại khoản 1 và một trong các điều kiện sau:
- Cơ sở đào tạo được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nơi triển khai hoạt động giáo dục, đào tạo công nhận chất lượng hoặc được cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục của quốc gia đó kiểm định chất lượng.
- Cơ sở đào tạo được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của quốc gia nơi triển khai hoạt động giáo dục, đào tạo cho phép hoạt động hoặc cho phép cấp bằng.
- Chương trình giáo dục được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của quốc gia nơi triển khai hoạt động giáo dục, đào tạo cho phép thực hiện hoặc được cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục của quốc gia đó kiểm định chất lượng.
4. Văn bằng từ chương trình đào tạo từ xa, trực tuyến
Theo khoản 5 Điều 3, văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp đối với chương trình giáo dục thực hiện theo phương thức từ xa được công nhận khi đáp ứng các điều kiện chung tại khoản 1 Điều 3. Đồng thời, khi người học lưu trú và học tập tại quốc gia nào, chương trình giáo dục phải được cấp có thẩm quyền về giáo dục của quốc gia đó cho phép thực hiện.
Phương thức đào tạo từ xa theo quy định bao gồm:
- Đào tạo trực tuyến.
- Đào tạo trực tuyến kết hợp trực tiếp.
- Kết hợp các phương thức đào tạo từ xa qua mạng máy tính, viễn thông, thư tín, phát thanh, truyền hình và các hình thức được quy định.
Vì vậy, người học cần xem xét không chỉ tính hợp pháp của cơ sở cấp bằng mà còn cả điều kiện triển khai chương trình tại quốc gia nơi mình lưu trú và học tập.
5. Điều kiện bổ sung đối với văn bằng giáo dục nghề nghiệp
Theo khoản 6 Điều 3, văn bằng giáo dục nghề nghiệp do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp phải đáp ứng các điều kiện chung tại khoản 1 và điều kiện tương ứng với phương thức đào tạo quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 3.
Ngoài ra, văn bằng phải bảo đảm:
- Tương đương về điều kiện trình độ tuyển đầu vào.
- Tương thích về thời lượng học tập, tính theo năm học hoặc theo số tín chỉ tích lũy ở cuối khóa học.
- Phù hợp với quy định về các bậc trình độ của Việt Nam.
Đây là yêu cầu bổ sung dành riêng cho văn bằng giáo dục nghề nghiệp. Vì vậy, khi đề nghị công nhận bằng thuộc lĩnh vực này, cần xem xét cả điều kiện của cơ sở cấp bằng, phương thức đào tạo và yêu cầu về đầu vào, thời lượng học tập.
6. Điều kiện đối với bằng tiến sĩ có nghiên cứu thực địa tại quốc gia khác
Theo khoản 7 Điều 3, bằng tiến sĩ do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp theo phương thức đào tạo trực tiếp tại cơ sở giáo dục nước ngoài và có thực hiện nghiên cứu thực địa tại một quốc gia khác được công nhận khi đáp ứng các điều kiện chung tại khoản 1 Điều 3, đồng thời bảo đảm thời gian học tập và nghiên cứu trực tiếp tại cơ sở đào tạo tối thiểu 12 tháng trong toàn khóa học.
Đây là điều kiện cụ thể áp dụng đối với trường hợp bằng tiến sĩ được đào tạo trực tiếp tại cơ sở giáo dục nước ngoài kết hợp nghiên cứu thực địa ở quốc gia khác theo phạm vi quy định tại khoản 7 Điều 3.
Cần lưu ý gì khi xác định điều kiện công nhận văn bằng nước ngoài?
Trước khi nộp hồ sơ, người đề nghị nên xác định rõ:
- Cơ sở giáo dục nào cấp văn bằng và cơ sở đó có hoạt động hợp pháp hay không.
- Văn bằng và chương trình giáo dục có đáp ứng các điều kiện tại khoản 1 Điều 3 hay không.
- Người học học trực tiếp tại nước cấp bằng, học theo chương trình liên kết, học tại quốc gia thứ ba hay học từ xa.
- Nếu là văn bằng giáo dục nghề nghiệp, văn bằng có đáp ứng yêu cầu bổ sung về trình độ đầu vào và thời lượng học tập hay không.
- Nếu là bằng tiến sĩ có nghiên cứu thực địa tại quốc gia khác, thời gian học tập và nghiên cứu trực tiếp tại cơ sở đào tạo có đáp ứng mức tối thiểu 12 tháng hay không.
Cần phân biệt điều kiện công nhận văn bằng với thành phần hồ sơ và trình tự, thủ tục đề nghị công nhận. Việc có đủ giấy tờ để nộp hồ sơ không đồng nghĩa văn bằng đương nhiên đủ điều kiện được công nhận. Cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét trên cơ sở quy định pháp luật và thông tin xác minh liên quan.
Điều kiện công nhận văn bằng nước ngoài tại Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều 3 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT. Các yêu cầu được phân chia theo điều kiện chung, phương thức đào tạo, địa điểm học tập và một số trường hợp đặc thù như văn bằng giáo dục nghề nghiệp hoặc bằng tiến sĩ có nghiên cứu thực địa tại quốc gia khác. Việc xác định đúng trường hợp áp dụng giúp người đề nghị chuẩn bị hồ sơ phù hợp, hạn chế việc bổ sung giấy tờ và chủ động hơn trong quá trình thực hiện thủ tục.

